eMagazine
0%

Kabuki là một trong những loại hình sân khấu được ví như “viên ngọc quý” của nghệ thuật ca kịch xứ Phù Tang. Trong không gian sân khấu ấy, mỗi một động tác, ánh nhìn hay những điệu múa uyển chuyển hòa cùng lớp phục trang cầu kỳ trên sân khấu Kabuki đã tạo nên sức cuốn hút bền bỉ, làm say lòng khán giả suốt hơn bốn thế kỷ qua.

Kokuho.
Ảnh: phim Kokuho (Quốc Bảo)

Tên gọi “Kabuki” được viết bằng ba chữ Hán: “歌 - Ca” nghĩa là “ca hát”, “舞 - Vũ” là “điệu múa” và “伎 - Kỹ” là “kỹ nghệ biểu diễn”. Đây cũng chính là ba yếu tố nền tảng tạo nên nghệ thuật sân khấu truyền thống Kabuki - loại hình kịch nghệ kết hợp giữa âm nhạc, vũ đạo và diễn xuất.

Điệu múa ra đời từ một người vu nữ Điệu múa ra đời từ một người vu nữ.

Nghệ thuật Kabuki được cho là ra đời vào khoảng đầu thế kỷ 17. Tương truyền rằng, một vu nữ Miko tên Okuni ở đền thờ Izumo Taisha đã trình diễn những điệu múa kết hợp ca kịch theo một phong cách mới, làm say lòng khán giả thuộc mọi tầng lớp xã hội. Và rồi Okuni đã thành lập nên đoàn múa của riêng mình, dạy họ các kỹ năng diễn xuất, khiêu vũ và ca hát, từ đó khai sinh ra những đoàn biểu diễn Kabuki đầu tiên.

Kiểu chữ Edomoji xuất hiện gần như trong mọi khía cạnh của đời sống văn hóa Nhật Bản.
Kiểu chữ Edomoji xuất hiện gần như trong mọi khía cạnh của đời sống văn hóa Nhật Bản. Ảnh: Grand Design